Cách Sống Chung Với Bệnh Trĩ Khi Mang Thai 3 Tháng Cuối

--- Bài mới hơn ---

  • Bị Trĩ Khi Mang Thai 3 Tháng Cuối Phải Làm Sao?
  • Cẩn Thận Nếu Bị Trĩ Khi Mang Thai 3 Tháng Cuối!
  • Bị Bệnh Trĩ Khi Mang Thai 3 Tháng Cuối
  • Kem Bôi Trĩ Chữ A Có Tốt Không? Review Từ Webtretho, Giá Bán
  • Bị Trĩ Khi Mang Thai, Mẹ Bầu Nên Làm Gì?
  • Thứ Năm, 14-09-2017

    Không lạm dụng thuốc hoặc làm thủ thuật, phẫu thuật bệnh trĩ nguy hiểm trong thời kỳ mang thai, đặc biệt trong 3 tháng cuối của thai kỳ. Do đó, các cách sống chung với bệnh trĩ khi mang thai 3 tháng cuối sẽ giúp các mẹ vượt qua sự khó chịu, đau đớn và ngăn ngừa tình trạng bệnh trĩ trầm trọng thêm cho đến khi em bé chào đời.

    Khi mang thai, đặc biệt là 3 tháng cuối thai kỳ tử cung của mẹ phát triển gây áp lực lên tĩnh mạch vùng xương chậu cũng như tất cả các mô và cơ khác làm chậm sự lưu thông máu khiến cách tĩnh mạch bị căng giãn hết cỡ. Cộng thêm đó là sự gia tăng của nội tiết tố progesterone sẽ khiến những thành tĩnh mạch dễ bị sưng. Đồng thời, progesterone cũng khiến chậm nhu động ruột và dễ gây táo bón,… Thì phụ nữ mang thai dễ bị bệnh trĩ “hỏi thăm” hơn.

    Cũng cần biết: Nếu bạn đã bị mắc bệnh trĩ ngay từ trước khi mang thai thì bệnh sẽ có xu hướng nặng thêm trong những giai đoạn tiếp theo của thai kỳ. Không chỉ khiến bạn khó chịu, đau đớn, lo lắng, căng thẳng,… mà chúng còn là mối đe dọa lớn đối với sự phát triển và sức khỏe thai nhi.

    Chính vì vậy mà các mẹ cần vững vàng tâm lý, chấp nhận “sống chung” với bệnh lý vùng hậu môn này cho đến khi bé yêu ra đời và được sự đồng ý của bác sĩ điều trị bệnh trĩ bằng thuốc, hay can thiệp thủ thuật, phẫu thuật.

    Theo Bs chuyên khoa Nguyễn Trung Hiếu – Bv Đại học Y dược: Mặc dù điều trị bệnh trĩ có nhiều phương pháp, song đối với phụ nữ mang thai nói chung và mang thai 3 tháng cuối nói riêng thì lại vô cùng ngặt nghèo. Chủ yếu mẹ bầu phải giữ tâm lý thoải mái, tránh lo lắng vì như thế tình trạng bệnh sẽ nghiêm trọng hơn; bên cạnh đó cần điều chỉnh chế độ ăn uống sinh hoạt và thực hiện một số lời khuyên hữu ích khác.

    Cụ thể như sau:

    Bị bệnh trĩ khi mang thai 3 tháng cuối phải làm sao?

    1. Tránh táo bón:

    Táo bón là tình trạng hay gặp khi mang thai, là điều kiện thuận lợi để bệnh trĩ hình thành và tiến triển nặng hơn. Bởi vậy, hãy cố gắng ăn nhiều chất xơ hơn và thực phẩm có tính nhuận tràng, uống nhiều nước và tăng cường vận động,… để hạn chế vấn đề này.

    Bên cạnh đó, các mẹ cũng nên tập thói quen đại tiện hàng ngày và đi cầu ngay khi có nhu cầu, tránh nhịn đại tiện hay rặn mạnh.

    ➝ Nếu bị táo bón, các mẹ có thể áp dụng: Cách trị táo bón khi mang thai an toàn, hiệu quả cho bà bầu này mà không cần đến thuốc nhuận tràng.

    2. Tránh ngồi, đứng quá lâu

    Ngồi nhiều, ít vận động sẽ khiến máu kém lưu thông, ứ trệ và khiến triệu chứng bệnh trĩ trở nặng. Hãy đi lại nhiều hơn, tập luyện thể dục thể thao với những bài tập phù hợp và nếu có thể hãy dành thời gian tập những bài tập Kegel giúp tăng lưu thông trong trực tràng, tăng cường cơ xung quanh hậu môn giúp ngăn chặn bệnh trĩ nặng lên trong khoảng thời gian này.

    Các mẹ bầu 3 tháng cuối bị trĩ cũng cần lưu ý: Khi ngủ, đọc sách hoặc xem các chương trình trên tivi nên nằm nghiêng trái – điều này có thể làm giảm áp lực lên trực tràng và tăng lượng máu trở về nửa dưới của cơ thể.

    3. Vệ sinh hậu môn sạch sẽ

    Để tránh tình trạng viêm nhiễm, các mẹ cần giữ vùng hậu môn khô và sạch. Hãy rửa bằng nước và dùng giấy trắng không mùi, mềm mại/khăn ướt chuyên dụng cho người bệnh trĩ để lau hậu môn. Sau mỗi lần đại tiện có thể dùng nước ấm ngâm hậu môn cũng rất tốt.

    4. Dùng đá hoặc túi chườm, nước ấm

    Trong trường hợp bị trĩ khi mang thai 3 tháng cuối mà búi trĩ sưng tấy, các mẹ có thể sử dụng đá lạnh hoặc túi chườm chườm lên vùng hậu môn vài lần/ngày; Hay ngâm hậu môn bằng nước muối ấm, tắm và ngâm mình trong bồn tắm với nước ấm khoảng 10 – 15 phút mỗi ngày cũng là cách giảm đau bệnh trĩ khi mang thai hữu hiệu.

    5. Mẹo trị bệnh trĩ bằng rau diếp cá

    Cách chữa bệnh trĩ bằng rau diếp cá là bí quyết được các mẹ bầu truyền tai nhau và áp dụng nhiều nhất, cho hiệu quả cao. Theo đó, mẹ bầu nên kết hợp ăn sống/uống nước ép rau diếp cá và xông hậu môn bằng rau diếp cá (50g rau diếp cá rửa sạch vò nát cho vào nồi, thêm nước và vài hạt muối đun sôi rồi xông chỗ bị trĩ) thường xuyên sẽ giúp búi trĩ co lại và hết đau đớn.

    Bên cạnh đó, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng nhưng giữ trọng lượng cơ thể vừa phải, tránh tăng cân quá mức; tránh đồ ăn cay nóng và nhiều dầu mỡ; không ngồi xổm; kê một chiếc ghế nhỏ dưới chân khi dùng bồn cầu bệt; đẩy nhẹ nhàng búi trĩ vào bên trong hậu môn nếu chúng sa ra ngoài,… cũng là những mẹo nhỏ giúp các mẹ sống chúng với bệnh trĩ khi mang thai 3 tháng cuối hòa bình. Nếu tình trạng bệnh có vẻ nghiêm trọng và không thể khắc phục được hãy gặp bác sĩ, đề nghị được dùng thuốc – cách này giúp các mẹ giảm đau nhanh chóng hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bị Trĩ Khi Mang Thai Mẹ Bầu Cần Lưu Ý Những Gì? Tuthuoc24H
  • Bị Bệnh Trĩ Khi Mang Thai Phải Làm Sao?
  • Khi Mang Thai Bị Trĩ Có Sinh Thường Được Không?
  • Mang Thai Có Sinh Thường Được Không Khi Bị Trĩ?
  • Bệnh Trĩ Khi Mang Thai Có Sinh Thường Được Không?
  • Cặp Song Sinh Chung Bạn Trai Muốn Cùng Mang Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tôi Muốn Phá Thai Thì Phải Làm Sao?
  • Em Đang Mắc Bệnh Cường Giáp, Khó Có Thể Mang Thai, Nhưng Em Vẫn Muốn Sinh Con Thì Phải Làm Sao?
  • Chế Độ Thai Sản Cho Người Nhờ Mang Thai Hộ Theo Quy Định
  • 10 “mĩ Phẩm” Làm Đẹp Cho Bà Bầu
  • Mỹ Phẩm Cho Bà Bầu
  • Anna và Lucy, người Australia, tuyên bố họ muốn thụ thai cùng nhau, kể cả bằng thụ tinh nhân tạo, vì muốn lúc nào cũng giống nhau.

    Anna và Lucy DeCinque, 30 tuổi, sống ở thành phố Perth, là cặp song sinh nổi tiếng không chỉ ở Australia mà còn trên khắp thế giới do có ngoại hình, quần áo, kiểu tóc giống hệt nhau. Thậm chí cả hai còn yêu chung một người đàn ông và đã gắn bó với người này được 4 năm nay.

    “Thực sự thì đôi khi một trong hai chúng tôi cảm thấy “bị đe dọa” bởi đối phương, do cả hai đều cho mình là trung tâm của sự chú ý”, News dẫn lời một trong hai cô gái chia sẻ qua điện thoại.

    Mới đây Anna và Lucy tiết lộ tuy đã có rất nhiều điểm chung, cả hai vẫn muốn mang thai và sinh con cùng nhau.

    “Nếu bây giờ tôi có thai, Lucy cũng phải mang bầu ngay lập tức, do cơ thể chúng tôi lúc nào cũng phải giống nhau. Chắc chắn hai đứa sẽ cố gắng để điều đó xảy ra. Hiện tại chúng tôi chưa có ý định thực hiện, dù rất yêu trẻ con. Nhưng chắc chắn là sẽ phải mang thai cùng lúc, dù có phải sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo”, Anna chia sẻ.

    Cặp song sinh giống hệt nhau người Australia gây chú ý vào năm ngoái sau khi tham gia một show truyền hình. Một công nghệ nhận dạng khuôn mặt được dùng trong chương trình này đã phải “bó tay” do không thể phân biệt được sự khác biệt giữa hai cô gái này.

    Cách đây vài năm, Anna và Lucy xuất hiện trên nhiều mặt báo do yêu chung một người đàn ông và số tiền ước tính mà họ chi trong hơn 10 năm qua để làm đẹp giống nhau lên tới 250.000 USD. Hai cô gái tuyên bố tuy từng bơm môi, xăm lông mày, nhuộm da, nhưng mới chỉ một lần phẫu thuật để thay đổi kích cỡ vòng một.

    Hướng Dương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sau Khi Kết Hôn Cùng Anh Tài, Diễn Viên Vũ Ngọc Ánh Chia Sẻ Muốn Được Mang Thai Song Sinh
  • Dấu Hiệu Mang Thai Sớm Nhất? Cách Nhận Biết Có Thai
  • Cách Mang Thai Nhanh Nhất: 20 Điều Cần Làm Ngay Hôm Nay
  • Muốn Phá Thai Phải Làm Thế Nào?
  • Muốn Nhanh Có Thai Phải Làm Thế Nào?
  • Thế Giới Chung Tay Phòng Tránh Mang Thai Ngoài Ý Muốn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Tránh Thai Sau Khi Sinh Hiệu Quả
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Làm Sao Để Phòng Tránh Nám Da Sau Khi Sinh?
  • Thuốc Tránh Thai Hàng Ngày Khi Cho Con Bú: Những Điều Cần Biết
  • 4 Điều Cần Biết Về Tiêm Thuốc Tránh Thai Sau Sinh Từ Bác Sĩ
  • Ngày 26/9, toàn thế giới kỷ niệm 10 năm Ngày Phòng tránh thai thế giới (26/9/2007- 26/9/2017). Tổ chức phi chính phủ quốc tế Marie Stopes International cho rằng, có hàng triệu trẻ em gái trên thế giới đang hàng ngày bị tước đi cơ hội phát triển, bởi những rào cản trong việc tiếp cận các biện pháp tránh thai, có nhu cầu tránh thai nhưng chưa được đáp ứng…

    Theo Marie Stopes International, hiện đang có tới 16 triệu trẻ em trên thế giới trong độ tuổi 15- 19 sinh con hằng năm. Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15- 19, trong đó 60- 70% là HSSV (theo con số của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam).

    Việc sinh con ngoài ý muốn do thiếu hiểu biết và không được tiếp cận với các thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản sẽ gây áp lực một cách đáng kể đến sức khỏe, khả năng tài chính, nguồn lực của mỗi gia đình và triển vọng cho tương lai của họ. Các biến chứng trong khi mang thai và sinh đẻ là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở phụ nữ từ 15- 19 tuổi. Những đứa trẻ được sinh ra bởi những bà mẹ tuổi vị thành niên cũng thường gặp nhiều rủi ro về sức khỏe hơn các trẻ em khác…

    Vì vậy, theo khuyến cáo của Marie Stopes Việt Nam, việc được tiếp cận các kiến thức và biện pháp tránh thai sẽ giúp cho phụ nữ trẻ và trẻ em gái trì hoãn được việc mang thai lần đầu. Từ đó, sẽ làm giảm đi số lượng ca mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, đồng thời giảm nguy cơ tử vong trong thai kỳ.

    Đề cập vấn đề này, bà Nguyễn Thị Bích Hằng- Trưởng đại diện Tổ chức Marie Stopes International tại Việt Nam cho biết: “Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Đây là thời gian họ phải trải qua nhiều thay đổi về thể chất và tâm sinh lý. Vượt qua giai đoạn này một cách an toàn sẽ giúp họ có cơ hội học tập và phát triển trong suốt cuộc đời còn lại. Chính vì vậy, trang bị kiến thức chính xác để vị thành niên và thanh niên tự bảo vệ mình trước việc mang thai và sinh con ngoài ý muốn cần được đặt thành ưu tiên hàng đầu. Khi phụ nữ và các trẻ em gái được tiếp cận với các biện pháp tránh thai một cách toàn diện, số bé gái bỏ học hoặc bị lỡ mất cơ hội học tập và phát triển vì mang thai ngoài ý muốn và số ca tử vong mẹ sẽ giảm đi đáng kể”.

    Được biết, Tổ chức Marie Stopes International (MSI) là môt trong những tổ chức cung cấp các biện pháp tránh thai và đình chỉ thai nghén an toàn trên thế giới. Năm 2022, khoảng 25 triệu phụ nữ và nam giới trên toàn cầu đã sử dụng các biện pháp tránh thai do MSI cung cấp. Đến năm 2022, MSI cam kết đưa con số này lên mức 40 triệu người. Ước tính, mỗi ngày MSI cung cấp các dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho hơn 28.000 phụ nữ trên toàn thế giới.

    Phạm Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phòng Tránh Mang Thai Ngoài Tử Cung?
  • Sau Khi Quan Hệ Nên Ăn Gì Để Tránh Có Thai Tốt Nhất
  • Sau Khi Quan Hệ Nên Ăn Gì Để Tránh Thai Tự Nhiên
  • Tất Tần Tật Thuốc Tránh Thai Khẩn Cấp Bạn Chưa Biết!
  • Những Tai Biến Nguy Hiểm Của Mang Thai Ngoài Tử Cung
  • Thực Trạng Chung Về Mang Thai Tuổi Vị Thành Niên Và Các Chương Trình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tôi Mang Thai Đứa Con Của Chị Gái Tải Xuống Miễn Phí • Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Chữa Ho Cho Bà Bầu Cực Hiệu Quả Với 5 Cách Sau Đây
  • Sinh Lý Học Của Thai Nghén
  • Trầm Cảm Trước Sinh Mối Nguy Hại Cho Cả Mẹ Lẫn Con
  • Trang Trần Đang Mang Bầu Hơn 1 Tháng
  • Thực trạng chung về mang thai tuổi vị thành niên và các chương trình/chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

    I-THỰC TRẠNG MANG THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN

    1. Thế giới

    Báo cáo“Làm mẹ khi chưa trưởng thành: Thách thức mang thai ở tuổi vị thành niên”cho thấy hàng năm thế giới có hơn 7 triệu em gái ở các quốc gia nghèo sinh con trước 18 tuổi, trong đó khoảng 2 triệu ca là các bà mẹ dưới 14 tuổi. Các bà mẹ chưa trưởng thành này sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng và kéo dài về mặt sức khỏe và xã hội do việc mang thai sớm.

    Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) cho biết, mỗi năm có khoảng 16 triệu em gái tuổi 15-19 sinh con; cứ 10 trẻ vị thành niên (VTN) thuộc nhóm này thì 9 đã lập gia đình. Các biến chứng khi mang thai và khi sinh tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ với các em gái 15-19 tuổi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Trên toàn cầu, cứ 3 nữ thanh niên tuổi 20-24 thì có 1 người (khoảng 70 triệu người) kết hôn trước tuổi 18.

    2. Việt Nam

    Theo thống kê của Trung tâm Tư vấn SKSS-KHHGĐ của Bệnh viện Phụ sản Trung ương, trong 5 năm 2008-2012, mỗi năm có xấp xỉ 80-100 ca đẻ/nạo,phá thai ở độ tuổi VTN. Tỷ lệ mang thai VTN trong tổng số ca nạo phá thai ở Bệnh viện này chiếm 1-3%.Tại Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) cũng trong giai đoạn này, tỉ lệ đẻ/phá thai ở độ tuổi VTN cũng chiếm khoảng 2,2-3,4% tổng số ca đẻ/phá thai ở Bệnh viện. Tuy nhiên,trong2 năm 2011-2012, tỉ lệ phá thai VTN ở Bệnh viện Từ Dũ tăng cao đột biến lên 6,8%. Theo các chuyên gia, việc gia tăng này có thể xuất phát từ 2 lý do: Thực sự là do số ca nạo phá thai tăng lên, hoặc do các em nhận thức tốt hơn về phá thai an toàn nên đến các Bệnh viện chuyên khoa, có trang thiết bị, tay nghề bác sĩ tốt.

    Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em (Bộ Y tế), tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010:2,9%; năm 2011:3,1%; năm 2012:3,2%, tương ứng tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% (2010), 2,4% (2011) và 2,3% (2012).

    Theo điều tra quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) năm 2009, tỉ lệ nạo phá thai ở VTN trên tổng số ca đẻ ước tính khoảng 20%, cao hơn nhiềuso với số liệu củaBệnh viện Phụ sản Trung ươngvàBệnh viện Từ Dũ.Vì thế, theo các chuyên gia,sựchênh lệchnàyphản ánh mảng tối trong việc phá thai không an toàn hiện nay.

    Thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho thấy, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300 ngàn ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60 – 70% là học sinh, sinh viên.Theo Tổng cục Dân số-KHHGĐ, mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm, nhưng tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ VTN, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai.

    Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở VTN Việt Nam ngày càng sớm. Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn rất hạn chế – chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên.

    Với con số mang thai và nạo hút thaiVTN nhưtrên, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi VTN cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới. Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số, mà đáng lưu tâm hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ.Nguyên nhân của thực trạng trên được các chuyên gia dân số lý giải đó là do tình trạng tảo hôn và quan hệ tình dục trước hôn nhân; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục còn chưa được phổ biến rộng rãi; giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính; tiếp cận với các dịch vụ chăm sócSKSS, sức khỏe tình dục không dễ dàng, đặc biệt là VTN, thanh niên sống ở nông thôn vàmiền núi.

    Hậu quả

    Nguyên nhân của thực trạng trên là do tảo hôn và quan hệ tình dục trước hôn nhân; các dịch vụ chăm sóc SKSS, tình dục chưa được phổ biến rộng rãi; thiếukiến thức về SKSS, thiếusố liệu thống kê chính thức về tình trạng mang thai, tỷ lệ phá thai và sinh con sớm ở tuổi vị thành niên…Nhữngrủi ro thường xảy ra khi sinh con ở tuổiVTNgồm: nguy cơ sinh non, sinh nhẹ cân, thai lưu và chết sơ sinh cao. Bên cạnh đó, kết hôn sớm cũng khiến các em phải chịu áp lực trong sinh nở, chăm sóc con cái và gia đình khi chưa đủ trưởng thành.

    II. CÁC CHƯƠNG TRÌNH/CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

    1. Môi trường pháp lý cho thực hiện các can thiệp

    Cho đến nay, có thể nói, Việt Nam đã có một hệ thống các văn bản chính sách thuận lợi cho việc triển khai các can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu SKSS VTN. Tuychưacó một Chiến lược quốc gia, song SKSS VTN đã được đề cập trongnhiềuvăn bản pháp lý quan trọng (luật, pháp lệnh, chiến lược) về chăm sóc SKSS hoặc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho VTN.

     Tháng 11/2005, Luật Thanh niên được Quốc hội thông qua-một dấu mốc quan trọng cho việc hoàn thiện các quyền của thanh niên. Đây là văn bản chính thức giúp hoàn thiện môi trường pháp lý cho các can thiệp SKSS VTN ở Việt Nam. Điều 21và 22quy địnhvềchính sách đầu tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng các cơ sở y tế, cơ sở hoạt động thể dục, thể thao; phát triển các hoạt động tư vấn về tình yêu, hôn nhân, gia đình, thực hiện kế hoạch hóa gia đình trong thanh niên;nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho thanh niên, tổ chức tư vấn cho thanh niên về dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần, SKSS, kỹ năng sống, phòng chống ma túy, HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

     Tháng 1/2003, Pháp lệnh Dân số được ban hành và sửa đổi vào 8/2008. Pháp lệnh gồm các giải pháp thực hiệnc ho từng nhóm đối tượng, giáo dục giới tính, SKSS và kỹ năng sống tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề và phổ thông.Tháng6/2006, Luật Phòng, chống nhiễm HIV/AIDS đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua.

    Tháng 11/2011, Chiến lược Dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020đượcChính phủ phê duyệt.“Cải thiện tình hình SKSS của VTN&TN thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ SKSS phù hợp với lứa tuổi” và “Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống”. Đó là giải pháp mở rộng các hình thức giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục dân số, SKSS, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường; giải pháp về chăm sóc SKSS và nâng cao dân trí, tăng cường vai trò của gia đình và bình đẳng giới.

     Có thể thấy rằng, một chiến lược chăm sóc SKSS cho VTN&TN bao gồm hệ thống các văn bản pháp lý đề cập đến vấn đề chăm sóc SKSS VTN, các chương trình hành động nêu lên mục tiêu, giải pháp và sự phân định trách nhiệm các tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc thực hiện là một đáp ứng hết sức cơ bản của Nhà nước và Chính phủ đối với các nhu cầu SKSS VTN hiện tại cũng như trong tương lai. Các văn bản pháp lý này thể hiện sự cam kết của Chính phủ trong các hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cũng như hỗ trợ tài chính.

     2. Cung cấp dịch vụ y tế

     Dù còn nhiều hạn chế về chất lượng, mức độ thân thiện, bảo mật, các dịch vụ lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị về SKSS và cung cấp các biện pháp tránh thai của hệ thống y tế nhà nước đã đáp ứng phần nào nhu cầu của VTN. Sự cởi mở về mặt chính sách của nhà nước (chủ trương xã hội hóa công tác y tế, khuyến khích hành nghề y, dược tư nhân…) đã bước đầu tạo điều kiện cho sự ra đời các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN do các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng hoặc các cá nhân phụ trách. Chính hệ thống dịch vụ này đã bổ sung cho hoạt động của các dịch vụ nhà nước và mở ra hướng đi mới cho việc phát triển đa dạng các hình thức cung ứng dịch vụ linh hoạt, thân thiện cho VTN, thậm chí dành riêng cho những nhóm đối tượng khác nhau như nam, nữ, học sinh, VTN nghiện chích ma túy, VTN nhiễm HIV. Trong tương lai, các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN của các tổ chức, cá nhân không thuộc nhà nước sẽ đóng vai trò quan trọng, giúp việc cung cấp dịch vụ SKSS VTN trở nên đa dạng, hiệu quả hơn.

     Bộ Y tế đã ban hành “Chuẩn quốc gia về dịch vụ SKSS” (2002) và hiện nay đang xây dựng “Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe thân thiện dành cho VTN&TN”. Đây là đáp ứng quan trọng tiến tới hoàn thiện về mặt chất lượng, kỹ thuật đối với các dịch vụ SKSS cung cấp cho VTN. Tháng 8 năm 2006, Bộ Y tế ra quyết định (số 23/2006/QĐ-BYT) chuyển đổi các Trung tâm chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW trước đây thành các Trung tâm chăm sóc SKSS, theo đó các trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh/thành phố sẽ có khoa Chăm sóc SKSS vị thành niên và nam học.

     3. Cung cấp thông tin – giáo dục – truyền thông

     Trong lĩnh vực giáo dục, nối tiếp với chương trình thí điểm giáo dục dân số được thực hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80, từ năm 1998, các nội dung giáo dục SKSS VTN được xác định cần ưu tiên và đưa vào lồng ghép, tích hợp trong 4 môn học: Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngữ văn của chương trình giảng dạy chính khóa. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện phương thức giáo dục lồng ghép này không cao do thời lượng các môn học chính khóa đã quá tải, giáo viên thiếu kiến thức và có thái độ e ngại khi nói về các vấn đề SKSS.

     Các hoạt động truyền thông cung cấp thông tin, tư vấn về SKSS VTN tới các đối tượng VTN ngoài trường học đã được Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện với nhiều hình thức như: biên soạn các tài liệu giáo dục SKSS VTN (tờ rơi, sách, sổ tay, băng hình…); tổ chức chiến dịch truyền thông; thiết lập trang web và đường dây nóng tư vấn về các vấn đề SKSS VTN. Các mô hình can thiệp về SKSS VTN dành cho VTN đã luôn được Đoàn thanh niên chú trọng phát triển: Trung tâm tư vấn thanh niên; Câu lạc bộ tiền hôn nhân và SKSS; Góc dịch vụ thân thiện dành cho VTN đặt trong các cơ sở của Đoàn thanh niên; Thanh niên tình nguyện thực hiện giáo dục về SKSS VTN…. Tuy nhiên, hiện nay mức độ đáp ứng của tổ chức Đoàn tại tuyến cơ sở còn không đồng đều. Các hoạt động can thiệp SKSS VTN nói trên được tổ chức rời rạc, thiếu tính đồng bộ và quy mô.

     Việc tuyên truyền về SKSS VTN trong cộng đồng, tới các bậc cha mẹ cũng đã bắt đầu được thực hiện. Hội Phụ nữ, Hội nông dân là đã tham gia thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, các can thiệp còn rất ít và chỉ mới ở những bước ban đầu. Thực tế, dưới góc độ chính sách và xây dựng chương trình, nội dung này hoàn toàn được coi là tiểu phần xây dựng môi trường thuận lợi cho việc tiến hành các can thiệp về SKSS VTN chứ chưa được đánh giá ở tầm chiến lược như là một yếu tố nền tảng, trực tiếp nâng cao SKSS VTN.

     4. Cam kết tài chính cho thực hiện các can thiệp

     Thách thức quan trọng đối với Chính phủ hiện nay là ưu tiên về SKSS VTN chỉ là một trong rất nhiều ưu tiên về phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo. Mặc dù ngân sách nhà nước chi cho các hoạt động y tế, giáo dục năm sau đều cao hơn so với năm trước song thực chất còn rất eo hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Việc thực hiện các cam kết về mặt tài chính cho các can thiệp về SKSS VTN từ trước đến nay gặp nhiều khó khăn.

     Trong ngân sách nhà nước dành cho ngành y tế, chỉ 10 tỷ VNĐ (ngân sách Bộ Y tế) được dành cho hoạt động chăm SKSS năm 2006. Dự án chăm sóc SKSS hiện mới được trình Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt để đưa vào chương trình mục tiêu y tế quốc gia triển khai thực hiện từ năm 2008 với một con số ngân sách khiêm tốn 100 tỷ VNĐ/năm (ngân sách Bộ Y tế: 20 tỷ, ngân sách địa phương: 80 tỷ). Tương tự, dự án y tế học đường có thể bao gồm cả nội dung chăm sóc SKSS VTN trong trường học cũng được dự toán chi 50 tỷ VNĐ/năm (ngân sách Bộ Y tế: 10 tỷ, ngân sách địa phương: 40 tỷ). Kế hoạch tổng thể chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho VTN&TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 trong đó bao quát hết các nội dung SKSS VTN, ước tính một ngân sách khiêm tốn là 100 tỷ VNĐ (khoảng 6,3 triệu USD) cho việc triển khai thực hiện song cũng vẫn chỉ là ngân sách dự kiến huy động từ nhiều nguồn và đến nay vẫn chưa có một cam kết cụ thể nào.

     5. Thực hiện điều phối, tổ chức

     Để thực hiện Chiến lược chăm SKSS, trong đó có mục tiêu chăm sóc SKSS VTN do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Ban chỉ đạo đã được thành lập gồm Bộ Y tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Bộ LĐ-TB-XH, Tổng cục Dân số-KHHGĐ-Bộ Y tế, Tổng cục Thể dục thể thao và các tổ chức đoàn thể là Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ. Trong đó, Bộ Y tế giữ vai trò chủ đạo.

     Khuyến nghị các Chương trình/Chính sách tiếp theo về chăm sóc SKSS VTN

     a. Hiện thực hóa các chính sách, tăng cường cam kết của chính quyền

     b. Đa dạng và mở rộng các dịch vụ SKSS VTN

     Các dịch vụ SKSS VTN thiết yếu nên được cung cấp bao gồm: thông tin, tư vấn và dịch vụ về các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, dinh dưỡng, vệ sinh kinh nguyệt, nạo thai an toàn; thông tin, giáo dục và tư vấn về HIV/AIDS, tiếp cận với các phương tiện phòng tránh như bao cao su, bơm kim tiêm sạch, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, chẩn đoán sớm và điều trị điều trị HIV/AIDS bao gồm cả tiếp cận thuốc ARV.

     Kinh nghiệm có được từ việc thực hiện các can thiệp SKSS VTN ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác cho thấy các dịch vụ SKSS VTN không thể chỉ được cung cấp ở tuyến Trung ương cũng như chỉ ở các cơ sở y tế công lập. Đa dạng hóa và mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ SKSS VTN, đặc biệt là các dịch vụ thân thiện là hết sức cần thiết để có thể đáp ứng ngày một tốt hơn các nhu cầu SKSS của VTN&TN. Cụ thể, cần đưa dịch vụ SKSS VTN xuống các cơ sở y tế thuộc tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu (trạm y tế xã/phường, các trung tâm y tế quận/huyện) hoặc các cơ sở trực thuộc các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội dân sự địa phương. Cần huy động các tổ chức y tế tư nhân, tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phi chính phủ Việt Nam, tổ chức cộng đồng… tham gia cung cấp dịch vụ SKSS VTN có chất lượng.

     Thông tin và các dịch vụ SKSS VTN được cung cấp qua nhiều mô hình can thiệp đa dạng và có sự lồng ghép với nhau. Các mô hình can thiệp đó có thể là: Lồng ghép giáo dục SKSS VTN với các môn học chính khóa trong nhà trường; Giáo dục SKSS VTN thông qua các hoạt động ngoại khóa; Các chương trình truyền thông trên phương tiện thông tin đại chúng; Trung tâm tư vấn SKSS cho VTN&TN; Góc dịch vụ thân thiện; Góc tư vấn thân thiện; Tư vấn qua điện thoại, internet; Giáo dục đồng đẳng, truyền thông nhóm nhỏ; Câu lạc bộ VTN&TN; Điểm vui chơi, giải trí có cung cấp dịch vụ SKSS VTN; Góc cung cấp thông tin, dịch vụ tại các điểm bưu điện, nhà văn hóa xã/phường; Các nhóm sân khấu – kịch; Lồng ghép tuyên truyền SKSS VTN trong các lễ hội truyền thống, giao lưu văn hóa, văn nghệ của đồng bào dân tộc; Nhà thuốc thân thiện…

     c. Xác định các ưu tiên và can thiệp đặc thù

     Trong điều kiện nguồn lực hạn chế của nước ta, xác định ưu tiên là một biện pháp quan trọng, cần thiết khi thực hiện các chương trình, can thiệp SKSS VTN từ Trung ương xuống địa phương. Can thiệp ưu tiên hướng vào các mục tiêu ưu tiên và đối tượng ưu tiên hoặc đối tượng có nguy cơ cao. Trong mỗi mục tiêu của chương trình, các hoạt động ưu tiên cũng cần được xác định. Xác định ưu tiên được dựa trên xác định tính cấp bách của vấn đề, khả năng khả thi tức thời và yêu cầu đầu ra. Cơ sở để xác định các ưu tiên gồm có: (1) Thông tin phân tích tình hình kinh tế – xã hội của địa phương; (2) Thông tin đánh giá nhu cầu SKSS VTN; (3) Thông tin của các nghiên cứu tác nghiệp; (4) Thông tin phân tích đối tác.

     Trong Kế hoạch tổng thể chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho VTN&TN Việt Nam, giai đoạn 2006-2010, các vấn đề ưu tiên cần được giải quyết là:

    1. SKSS/sức khỏe tình dục;

    2. Phòng, chống lây nhiễm HIV;

    3. Tai nạn thương tích;

    4. Sử dụng chất gây nghiện;

    5. Sức khỏe tâm thần;

    6. Công bằng trong tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe cho nhóm VTN&TN có khó khăn và có hoàn cảnh đặc biệt.

    Các can thiệp SKSS VTN nhằm mục đích:

     7.Cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng; phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS;

     8.Hạn chế mức tăng và tiến tới giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn trong VTN&TN.

    Các can thiệp SKSS VTN mang tính đặc thù cao, đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương, và các đối tượng VTN khác nhau. Việc triển khai các hoạt động can thiệp cần tính đến các yếu tố tuổi, giới, các đặc trưng văn hóa, kinh tế – xã hội của các nhóm đối tượng đích (nhóm 10-14 tuổi, 15-19 tuổi, 20-24 tuổi; nhóm nam, nữ; nhóm sống ở thành thị – nông thôn, đồng bằng – miền núi; nhóm yếu thế, nhóm có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm người dân tộc…).

    9. Mở rộng phạm vi và vùng can thiệp

    Khả năng mở rộng phạm vi cung cấp các dịch vụ SKSS VTN về mặt địa lý ở nước ta cần được xem xét dựa trên trình độ phát triển kinh tế – xã hội, thực trạng cơ sở hạ tầng và mức độ cam kết về tài chính của chính quyền các địa phương. Việc mở rộng phạm vi địa lý cho các can thiệp SKSS VTN cần có chiến lược và được chia thành nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu (khoảng 5-7 năm trước mắt), các dịch vụ SKSS VTN nên được triển khai ở vào các vùng đô thị (thành phố, thị xã) và một vài vùng nông thôn phát triển. Đối với các vùng đô thị, nên đẩy mạnh xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ. Các hỗ trợ ban đầu có thể được huy động, sau đó tính bền vững phải được đảm bảo thông qua cơ chế lấy thu bù chi. Đối với các vùng nông thôn, ngân sách bao cấp nên được tăng cường để giảm các phí dịch vụ, thu hút khách hàng VTN&TN. Giai đoạn 2, các nguồn lực hỗ trợ lúc này cần dồn vào để nhân rộng các mô hình cung cấp dịch vụ SKSS VTN cho các vùng nông thôn kém phát triển và tiến dần đến vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, xa, khó khăn.

     Ngay trong giai đoạn đầu, các vùng có những vấn đề SKSS VTN nổi cộm hoặc các vùng công nghiệp mới ở Đông Bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) và Đông Nam bộ (thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu) nên được tập trung ưu tiên.

     Việc mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ SKSS VTN cần phải tính toán đến các yếu tố: mức biến động tự nhiên dân số; mức độ tập trung dân cư; mức độ di biến động của nhóm dân số VTN&TN giữa các vùng, tỉnh/thành phố.

     10. Cơ chế quản lý, điều phối và lồng ghép

     Chương trình, can thiệp SKSS VTN cần phải sự điều phối liên ngành, với sự phối kết hợp hợp lý giữa các cơ quan chính phủ như Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT, các cơ quan thông tin đại chúng và các tổ chức chính trị xã hội như Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ… Hoạt động điều phối liên ngành là một biện pháp xã hội hóa nhằm nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống xã hội, những thế mạnh và kinh nghiệm của các ngành trong các can thiệp SKSS VTN. Việc điều phối phải có sự phân cấp quản lý từ Trung ương xuống cơ sở. Ngành y tế phải giữ vai trò điều phối chủ đạo cũng như hỗ trợ kỹ thuật cho việc triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá.

     Cơ chế giám sát, đánh giá cũng cần được thực hiện liên ngành. Các chỉ báo tổng hợp, bộ công cụ phục vụ cho việc giám sát và đánh giá cần được xây dựng và phát triển để đo lường mức độ tiến triển của các chương trình, can thiệp SKSS VTN được tiến hành. áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở về quyền, trong quá trình thực hiện, giám sát, đánh giá các chương trình, can thiệp SKSS VTN, cần đảm bảo sự tham gia của VTN&TN.

     11. Xây dựng năng lực các cấp

     Xây dựng năng lực (quản lý, kỹ thuật) cho các đối tác ở các cấp là một khâu quan trọng, tiền đề đảm bảo cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN được thực hiện hiệu quả. Việc xây dựng năng lực đòi hỏi cả nguồn lực con người lẫn tài chính đáng kể. Trong hệ thống Chính phủ, những năng lực cần được tăng cường cho các ban, ngành, đoàn thể tuyến Trung ương gồm: năng lực lập kế hoạch, điều phối, giám sát; ở cấp địa phương là năng lực thực hiện một chương trình SKSS VTN toàn diện. Các đối tác trong cộng đồng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng hiện đang rất cần được nâng cao năng lực để triển khai các can thiệp hay cung cấp các dịch vụ SKSS hiệu quả cho VTN&TN. Chính vì vậy, một đánh giá về năng lực của các đối tác tham gia thực hiện chương trình cần phải được thực hiện. Đây là bước đầu tiên trong quá trình triển khai nhân rộng các can thiệp SKSS VTN. Nó giúp xác định các nhu cầu xây dựng năng lực, hỗ trợ kỹ thuật thiết yếu nhất cần được ưu tiên. Việc xây dựng năng lực được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn; phát triển các hướng dẫn, các tiêu chuẩn về dịch vụ SKSS VTN và chính trong quá trình triển khai các can thiệp SKSS VTN trong thực tế.

     12. Hỗ trợ kỹ thuật và huy động tài chính

     Hỗ trợ kỹ thuật đầy đủ và hiệu quả cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN là nhu cầu quan trọng trong điều kiện của nước ta. Cần thành lập các nhóm chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật gồm các chuyên gia thuộc lĩnh vực SKSS, y tế cộng đồng, truyền thông, khoa học xã hội, tâm lý và các chuyên gia có kinh nghiệm về SKSS VTN của các tổ chức quốc tế và trong nước. Huy động sự giúp đỡ về mặt chuyên môn, kỹ thuật của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ quốc tế.

     Chiến lược huy động tài chính cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN nên áp dụng nhiều giải pháp khác nhau và dựa vào nhiều nguồn khác nhau như:

    1. Ngân sách nhà nước và địa phương;

    2. Viện trợ quốc tế;

    3. Quỹ nhân đạo;

    4. Quỹ cộng đồng và bảo hiểm;

    5. Đóng góp của cá nhân.

    Ngân sách nhà nước, địa phương sẽ là nguồn quan trọng để đảm bảo các chi phí tối thiểu, cơ bản cho việc thực hiện chương trình, song về lâu dài, đây phải là nguồn ngân sách chính chi cho việc triển khai các hoạt động. Nguồn viện trợ giúp phát triển và thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên trong từng giai đoạn. Quỹ nhân đạo (trong nước và quốc tế) giúp cho cho một số can thiệp SKSS dành cho nhóm VTN&TN yếu thế. Quỹ cộng đồng và bảo hiểm dành cho đối tượng học sinh, sinh viên trong nhà trường. Nguồn đóng góp của cá nhân dành cho các dịch vụ SKSS VTN thân thiện. Đây là những chi trả trực tiếp của VTN khi nhận các dịch vụ thân thiện, song trước mắt cần được hỗ trợ một phần cho việc chi trả này bằng các dự án mục tiêu ngắn hạn./.

                                                                                                                                                                                                                                                 Mai Xuân Phương

    Phó Vụ trưởng Vụ truyền thông-Giáo dục

     

    Tổng cục Dân số= KHHGĐ

     

                                                                                                                                                                                                                        

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Sản Khoa :: Việt Anh Song Ngữ
  • Tại Sao Bà Bầu Cần Tiêm Vaccine Uốn Ván?
  • Những Câu Hỏi Thường Gặp Khi Tiêm Phòng Uốn Ván Cho Bà Bầu
  • Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dưỡng Chất Cho Bà Bầu Formom Viva Pharmaceutical (30 Viên)
  • Thực Đơn Hàng Ngày Cho Bà Bầu 3 Tháng Đầu Đủ Chất Nhất
  • Bị Đồn Nhờ Mang Thai, Elly Trần Khoe Ảnh Bụng Bầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bằng Chứng Khiến Bạn Tin Elly Trần Đã Mang Thai Và Sinh Con Lần 2
  • Elly Trần: Tôi Mặc Khéo Nên Không Ai Nghĩ Mang Thai Lần 2
  • Chiêu Chọn Trang Phục ‘cao Tay’ Của Elly Trần
  • Một Tháng Đầu Đời Của Em Bé Được Mang Thai Hộ Đầu Tiên Ở Việt Nam
  • Ca Mang Thai Hộ Đầu Tiên: Người Cha Lén Lau Nước Mắt Khi Được Gọi Bố
  • “Bà mẹ một con” tự tin khoe ảnh bụng bầu để “đáp trả” những ai nói cô nhờ người mang thai hộ.

    Cách đây vài ngày, Elly Trần gây bất ngờ với công chúng và giới truyền thông khi công khai việc đã có con gái hơn 2 tháng tuổi. Con gái Elly Trần tên tiếng Việt là Mộc Trà, sở hữu gương mặt đáng yêu và nhanh chóng có lượng fan “khủng” trên trang cá nhân.

    Mặc dù mới sinh con được hơn 2 tháng nhưng do lấy lại vóc dáng quá nhanh, Elly Trần đã khiến không ít người cho rằng cô nhờ người mang thai hộ.

    Bức xúc với nhiều lời đàm tiếu của dư luận, Elly Trần đã khoe ảnh bụng bầu khi cô mang thai bé Mộc Trà. Có thể nhận thấy thân hình của cô không có quá nhiều thay đổi ngoại trừ vòng hai.

    Nữ diễn viên cũng cho biết cô đang bắt đầu suy nghĩ đến việc quay lại showbiz, chỉ có điều cô không nhận những lời mời làm việc xa nhiều như ngày xưa. Bản thân Elly Trần cũng không ngại chụp với bikini dù đã qua một lần sinh nở.

    Elly Trần khoe ảnh bụng bầu để xóa tan mọi tin đồn cô nhờ người mang thai hộ.

    Trong thời gian bầu bí, cô không tăng cân quá nhiều ngoại trừ vòng hai ngày một lớn hơn.

    Khi mặc trang phục rộng, ít ai nghĩ cô đang có bầu.

    Vóc dáng thon gọn của Elly lúc mang thai bé Mộc Trà.

    Con gái Elly sở hữu vẻ đẹp thiên thần, cô nhóc có tên Cadie nhanh chóng sở hữu lực lượng fan “khủng” trên mạng xã hội.

    Elly Trần nhanh chóng lấy lại vóc dáng như thời con gái sau khi sinh nở.

    Thậm chí cô còn đẹp và mặn mà hơn xưa.

    Elly Trần và con gái đang là từ khóa gây bão trên mạng xã hội mấy ngày qua. Việc Elly Trần khoe ảnh bụng bầu chắc chắn sẽ càng khiến cái tên này được chú ý hơn.

    Theo Khampha.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bị Nói Thuê Người Đẻ Và Phản Ứng Của Elly Trần
  • Elly Trần Khoe Ảnh Bán Nude Đáp Trả Nghi Án Nhờ Mang Thai Hộ
  • Lợi Ích Từ Quả Nho Đối Với Bà Bầu
  • Tình Tiết Gây Sốc Đường Dây Mua Bán Trẻ Em, Tinh Trùng Ở Tp.hcm
  • Chân Dung ‘bà Trùm’ Đường Dây Đẻ Thuê Ẩn Danh Mang Thai Hộ
  • Phi Thanh Vân Khoe Bụng Bầu Giữa Tin Đồn Mang Thai Giả

    --- Bài mới hơn ---

  • Phi Thanh Vân Cho Biết Chồng Cũ Đang Muốn Quay Lại, Vợ Của Bảo Duy Liền Tiết Lộ Mang Bầu Con Trai
  • Phi Thanh Vân Hạnh Phúc Khoe Đang Mang Thai Con Trai Nhưng Không Biết Bố Cháu Là Ai
  • Giữa Lúc Phi Thanh Vân Tiết Lộ Chồng Cũ Muốn Quay Lại, Vợ Bảo Duy Liền Thông Báo Mang Bầu Con Trai
  • Chồng Phi Thanh Vân: Tôi Cưng Gấp 10 Khi Vợ Mang Bầu
  • “da Nâu” Phi Thanh Vân Mang Bầu 2 Tháng
  • Chồng của Phi Thanh Vân thừa nhận, những hình ảnh này nhằm phản pháo tin đồn cô mang thai giả.

    Mới đây, Phi Thanh Vân đăng tải những hình ảnh gợi cảm bên bể bơi khi diện bikini. Phi Thanh Vân chia sẻ, cô đang mang thai ở tuần thứ 16 và cô rất tự tin với ngoại hình của mình. ” Bác sĩ dặn sau khi thai nhi được 3 tháng, mẹ nên bơi ngửa sẽ tốt cho cả mẹ và thai nhi“, Phi Thanh Vân cho biết.

    Phi Thanh Vân khoe bụng bầu khi diện bikini.

    Trước hình ảnh của “bà bầu” Phi Thanh Vân trên mạng xã hội, nhiều người cho rằng, đây là dụng ý của cô để đáp trả lại tin đồn mang thai giả thời gian gần đây. Liên lạc với Bảo Duy, chồng của Phi Thanh Vân, anh cũng thừa nhận: “Đúng là Vân khoe những bức hình bầu này một phần là để phản pháo lại tin đồn mang thai giả vừa qua, một phần là muốn lưu lại những hình ảnh dễ thương này để làm kỷ niệm về sau cho con xem lại. Sắp tới, vợ chồng tôi sẽ thực hiện một bộ ảnh bầu nghệ thuật để lưu giữ lại những khoảnh khắc thiêng liêng trong thời gian Vân mang thai“.

    Bảo Duy chia sẻ thêm, từ khi yêu đến khi thành vợ chồng, anh và Phi Thanh Vân đã trải qua nhiều sóng gió nên tin đồn mang thai giả không quá ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. ” Với tin đồn mang thai giả, tôi và Vân chỉ nhìn nhau và cười mà thôi. Sau đó, chúng tôi động viên nhau hướng đến những điều tốt đẹp. Có thể nói, càng trải qua nhiều thị phi, tình yêu của chúng tôi cả bền chặt và trân trọng nhau hơn, trân trọng những gì mình đang có“, Bảo Duy nói.

    Phi Thanh Vân tự tin tạo dáng bên bể bơi.

    Chồng trẻ của Phi Thanh Vân còn cho biết, để vợ thoải mái đầu óc, tập trung dưỡng thai, hàng ngày anh làm những việc nhỏ như quan tâm đến cảm xúc của vợ, massage những bộ phận cơ thể hay bị mỏi của bà bầu như chân, lưng. Ngoài ra, anh còn phụ vợ quản lý, điều hành công ty và đưa vợ đi du lịch.

    Phi Thanh Vân từng nhiều lần tuyên bố có thai nhưng rồi lại bị sảy khiến tinh thần cô suy sụp. Lần mang thai này, một số tin đồn cho rằng đây là chiêu trò của nữ ca sĩ Da nâu.

    Tuy nhiên, hôm 26.9 vừa qua, Phi Thanh Vân cũng khoe hình ảnh đi siêu âm con đang phát triển khỏe mạnh và hôm nay là hình bụng bầu với bikini để chứng minh cô không chiêu trò.

    Phi Thanh Vân đang tận hưởng những ngày hạnh phúc khi sắp được làm mẹ.

    Hot: Truyện tranh Lạc Trôi của nghệ sĩ Sơn Tùng M-TP đã mở bán

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bà Bầu Sửng Sốt Khi Xem Ảnh Siêu Âm Bụng Sau Phẫu Thuật Thai Ngoài Tử Cung
  • Mang Thai Ngoài Tử Cung Nếu Không Phẫu Thuật Thì Có Cách Khác Không?
  • Phẫu Thuật Nội Soi Thai Ngoài Tử Cung
  • Mang Thai Ngoài Tử Cung Thường Hay Nhầm Lẫn
  • Dấu Hiệu Mang Thai Ngoài Tử Cung Là Gì? Mẹ Cần Phát Hiện Sớm Trước Khi Quá Muộn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100