Nghị Định Quy Định Về Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo 10/2015/nđ

--- Bài mới hơn ---

  • Đưa Mang Thai Hộ Vào… Luật?
  • Cô Giáo Dạy Nhạc Tình Nguyện Mang Thai Hộ Vợ Chồng Chị Gái
  • Mang Thai Hộ Ở Ấn Độ
  • Thương Mại Hóa Mang Thai Hộ
  • Ngành Công Nghiệp “mang Thai Hộ” Ấn Độ Sụp Đổ Vì Luật Cấm Đẻ Thuê
  • Quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    Nghị định quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 10/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2022. Nghị định này được ban hành để bãi bỏ Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.

    Quy định về mang thai hộ

    NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM VÀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009; Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình ngày 19 tháng 6 năm 2014; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế, Chính phủ ban hành Nghị định quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

    1. Nghị định này quy định về việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận noãn, cho và nhận phôi; thẩm quyền, thủ tục cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi; thông tin, báo cáo.

    2. Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

    3. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cá nhân là người nước ngoài thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ tại Việt Nam.

    1. Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi;

    2. Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai;

    3. Noãn là giao tử của nữ;

    4. Tinh trùng là giao tử của nam;

    5. Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng;

    6. Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật;

    7. Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ.

    Điều 3. Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    1. Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

    2. Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

    3. Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện.

    4. Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc.

    5. Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.

    QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VÀ NHẬN TINH TRÙNG, CHO VÀ NHẬN NOÃN, CHO VÀ NHẬN PHÔI

    Điều 4. Quy định về việc cho tinh trùng, cho noãn

    1. Người cho tinh trùng, cho noãn được khám và làm các xét nghiệm để xác định: Không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; không bị nhiễm HIV.

    2. Tự nguyện cho tinh trùng, cho noãn và chỉ cho tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Bộ Y tế công nhận được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

    3. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng.

    4. Tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người, nếu không sinh con thành công mới sử dụng cho người khác. Trường hợp sinh con thành công thì tinh trùng, noãn chưa sử dụng hết phải được hủy hoặc hiến tặng cho cơ sở làm nghiên cứu khoa học.

    Điều 5. Quy định về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi

    1. Người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng hoặc là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con và noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai.

    2. Người nhận noãn phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam và là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.

    3. Người nhận phôi phải thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng;

    b) Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà vợ chồng đã thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng bị thất bại, trừ trường hợp mang thai hộ;

    c) Phụ nữ độc thân mà không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.

    Nguyễn Tấn Dũng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Phạt Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Thương Mại Có Nặng Không?
  • Mang Thai Hộ Và Quy Định Dịch Vụ Nổi Bật
  • Chồng Mới Mất, Bố Mẹ Chồng Lại Muốn Em Mang Thai Hộ Cho Ông Bà
  • Thuê Người Mang Thai Hộ, Tôi Có Được Con Nhưng Mất Chồng
  • Nguy Cơ Mất Chồng Lẫn Con Sau Một Lần Gật Đầu Nhờ Mang Thai Hộ Bằng Cách “truyền Thống”
  • Quy Định Về Mang Thai Hộ

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Tháng Đầu Mang Thai Có Nên Quan Hệ Không
  • Những Thay Đổi Của Mẹ Bầu Khi Mang Thai Tháng Thứ 4
  • Những Thực Phẩm Bà Bầu Không Nên Ăn Cùng Nhau
  • Bà Bầu Không Nên Ăn Gì? Những Thực Phẩm Bà Bầu Không Nên Ăn Cùng Nhau?
  • Thực Phẩm Nào Giúp Bà Bầu Sinh Con Thông Minh?
  • Ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi chính thức được thông qua, với 79,52% số phiếu tán thành, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2015, với 10 chương, 133 điều quan hệ hôn nhân gia đình sẽ có những quy định pháp lý điều chỉnh về chế độ hôn nhân và gia đình. Cụ thể, Luật quy định những vấn đề như: Kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; chấm dứt hôn nhân; quan hệ giữa cha, mẹ và con; quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình; cấp dưỡng; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài…đặc biệt Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã chính thức thừa nhận và cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo (cụ thể từ Điều 93 đến Điều 98), song phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên …

    Theo đó, các cặp vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện, gồm:

    + Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    + Vợ chồng đang không có con chung;

    + Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Luật được thông qua dựa trên nguyên tắc “người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng để ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa việc mang thai hộ”. Theo đó, người được nhờ mang thai hộ phải có đủ 5 điều kiện:

    + Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    + Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    + Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    + Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi cũng có các điều khoản để giải quyết những rắc rối phát sinh.

    Đáng chú ý là việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con (của người mang thai hộ) theo chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con, thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con, thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết, thì con được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ…

    Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải bảo đảm các điều kiện:

    a) Lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Việc ủy quyền cho người thứ ba không được công nhận. Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này;

    b) Có thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên;

    c) Quyền, nghĩa vụ về hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ;

    d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

    Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

    (i)Người mang thai hộ, vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con đến khi giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ theo thỏa thuận;

    (ii)(ii) Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Thời gian hưởng chế độ thai sản ít nhất là 60 ngày kể từ ngày sinh. Việc mang thai hộ không bị ràng buộc về thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình đối với lần mang thai hộ;

    (iii)Trong trường hợp có khó khăn về bảo đảm sức khỏe sinh sản, bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của thai nhi phù hợp với quy định của pháp luật y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản, người phụ nữ mang thai hộ có quyền quyết định về việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản.

    Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

    (i)Trong trường hợp bên mang thai hộ có khó khăn về chi trả các chi phí thực tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản thì bên nhờ mang thai hộ phải hỗ trợ những chi phí thực tế đó;

    (ii)(ii) Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra, ngay cả trong trường hợp bên mang thai hộ chưa giao con cho họ. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 6 tháng tuổ;

    (iii)(iii) Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con, không nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này, nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường theo thỏa thuận; không có thỏa thuận thì theo quy định của Bộ luật dân sự;

    Việc bổ sung quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thể hiện tính nhân văn sâu sắc, đáp ứng nhu cầu làm cha mẹ chính đáng của các cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng. Nếu như em gái hoặc chị gái mang thai hộ cho anh trai hoặc em trai mình thì hiện tượng này không phù hợp với quan niệm xã hội, trái với luân thường đạo lý, đi ngược lại với những quan niệm về chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán và bản thân nó có thể chứa đựng trong đó những yếu tố “loạn luân”. Bởi lẽ, không phải ở đâu hay người nào cũng nhận thức được đó chỉ là đẻ hộ, nhờ hay là mượn bụng của em gái (chị gái) để nuôi dưỡng bào thai đó trong một thời gian nhất định, nhất là đa phần người dân nông thôn chưa hiểu ý nghĩa của việc mang thai hộ cũng như phương pháp, kỹ thuật mang thai hộ. Họ chỉ nghĩ một cách đơn giản là những người trong họ hàng mà có con với nhau là loạn luân.

    Từ phân tích trên, việc quy định đối tượng nào đủ điều kiện mang thai hộ là hết sức phức tạp, ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức của con người, đặc biệt là những quan niệm về “mẹ” và “huyết thống”. Không phải vì những yếu tố phức tạp đó mà chúng ta bỏ qua những ý nghĩa nhân văn, nhân đạo to lớn từ chế định mang thai hộ đem lại. Nếu vẫn quy định đối tượng mang thai hộ là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng thì cần thiết phải có sự tuyên truyền, phổ biến để mọi người hiểu đúng hơn, thậm chí là hiểu thêm về nội hàm của khái niệm “mẹ” và “huyết thống” trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, những gì đã ăn sâu vào trong tiềm thức của con người, hiện hữu trong đời sống con người hàng ngàn năm nay thì không phải dễ mà thay đổi được trong tương lai gần. Nên chăng, chúng ta không quy định điều kiện “là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng” nữa, mà có thể là bạn bè hoặc một đối tượng nào đó do người nhờ mang thai hộ tìm kiếm và lựa chọn ở ngoài xã hội sẽ hợp lý hơn. Như vậy, chúng ta sẽ không có những băn khoăn về các mối quan hệ phát sinh từ chế định mang thai hộ, từ đó, chúng ta cũng sẽ có cách hiểu chính xác hơn như thế nào là “mẹ” và “huyết thống”.

    LDL mong rằng bài viết trên có thể phần nào đó giúp bạn đọc hiểu được những điểm mới của Luật Hôn nhân gia đình về việc mang thai hộ. Nếu bạn đọc gặp những vấn đề pháp lý, đừng ngần ngại hay chần chừ, hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi hoặc gọi đến tổng đài 1900.599.929 để được trao đổi cụ thể và tư vấn cũng như nhận được những dịch vụ pháp lý tốt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Quy Định Mới Về Mang Thai Hộ
  • Những Bộ Phim Về Chuyện Học Trò ‘ăn Cơm Trước Kẻng’
  • 9 Tháng Mang Thai, 9 Bộ Phim Hấp Dẫn Không Thể Bỏ Qua!
  • Điểm Danh Những Món Ăn Vặt Bà Bầu Không Lo Tăng Cân
  • 10 Món Ngon Cho Bà Bầu 3 Tháng Đầu: Những Món Ăn Tốt Cho Bà Bầu
  • Quy Định Về Việc Mang Thai Hộ

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Vấn Đề: Ngũ Cốc Cho Bà Bầu Tiểu Đường Bạn Phải Biết
  • Ngứa Âm Đạo Khi Mang Thai Thì Phải Làm Sao?
  • Ngứa Âm Đạo Khi Mang Thai Phải Làm Sao?
  • Mang Thai Tuần 37: Lời Khuyên Cần Thiết Dành Cho Mẹ Bầu
  • Người Đàn Ông Mang Thai Và Sinh Con Đầu Tiên Trên Thế Giới Sau 13 Năm Giờ Ra Sao?
  • 1. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

    • Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.
    • Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

    Pháp luật hiện hành chỉ công nhận và cho phép hành vi mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

    2. Điều kiện mang thai hộ:

    a) Ý chí các bên:

    • Các bên trong quan hệ phải hoàn toàn tự nguyện
    • Hình thức thỏa thuận: bằng văn bản.

    b) Có Quyền nhờ mang thai hộ khi:

    • Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
    • Vợ chồng đang không có con chung;
    • Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    c) Người nhận mang thai hộ:

    • Phải là người đã có con (sinh con)
    • Chỉ được mang thai hộ 1 lần.
    • Độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế về khả năng sinh sản.
    • Là người thân thích ngang hàng của bên vợ hoặc bên chồng của người cần mang thai hộ.
    • Nếu là người có chồng thì phải có sự đồng ý của người chồng bằng văn bản
    • Đã được tư vấn về tâm lý, pháp lý, y tế.

    4. Tại sao pháp luật đặt ra điều kiện như trên?

    Điều kiện với người cần nhờ mang thai hộ:

    • Luật Hôn nhân và gia đình đặt ra các yêu cầu chặt chẽ như: có xác nhận của cơ sở ý tế về khả năng sinh sản, vợ chồng chưa có con chung,… nhằm mục đích ngăn chặn sự lạm dụng việc mang thai hộ. Bởi, thực tế hiện nay, có khá nhiều các đôi vợ chồng muốn có con nhưng không muốn mang thai vì ngại mang nặng đẻ đau, tiết kiệm thời gian, chi phí và nhiều mục đích khác. Vì vậy, các điều kiện pháp luật đặt ra với người nhờ mang thai hộ hợp lý nhằm ngăn chặn tình trạng này vì mục đích thương mại.
    • Phải được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý: Đối với người nhờ mang thai hộ, cần nhận thức được các vấn đề như: ai là cha mẹ trên giấy khai sinh, ai là người được hưởng chế độ phụng dưỡng sau này, tâm lý sẽ như thế nào khi nhận nuôi con không phải mình tự sinh… Những vấn đề này họ phải nắm rõ trước khi quyết định nhờ mang thai hộ.

    Điều kiện với người nhận mang thai hộ:

    • Phải là người đã từng sinh con và có độ tuổi phù hợp, có khả năng sinh sản phù hợp: Mang thai và sinh đẻ là việc không đơn giản đối với sức khỏe, tính mạng của cả người mang thai và thai nhi. Vì vậy, để đảm bảo an toàn về sức khỏe cho cả người mang thai và thai nhi, người mang thai hộ phải là người đã từng sinh con vì họ đã có kinh nghiệm trong việc sinh đẻ, họ có thể tự lo liệu cho cả bản thân và thai nhi trước và sau khi sinh.
    • Chỉ được mang thai hộ 1 lần: là hành vi nhân đạo, nên pháp luật chỉ cho phép người mang thai hộ 1 lần duy nhất. Điều này ngăn chặn tình trạng lạm dụng biến chất thành dịch vụ thương mại – hành vi bị cấm theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành.
    • Đã được tư vấn về tâm lý, pháp lý, y tế: Các vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với người nhận mang thai hộ, (ví dụ: sức khỏe sinh sản, ai là người làm cha mẹ khi sinh thai nhi, có được chế độ chăm sóc phụng dưỡng không?…)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Kết Quả Bước Đầu Thực Hiện Nghị Định Về Việc Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo
  • Việt Nam Chuẩn Bị Đón Trẻ Ra Đời Từ Mang Thai Hộ
  • Nghén Ngủ Khi Mang Thai Bà Bầu Phải Làm Thế Nào?
  • #1【Tìm Hiểu】 Nghén Ngủ Khi Mang Thai Có Tốt Không?
  • Nghén Ngủ Khi Mang Thai Và Những Lý Giải Hóm Hỉnh Về Hiện Tượng Này
  • Những Quy Định Mới Về Mang Thai Hộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Về Mang Thai Hộ
  • 3 Tháng Đầu Mang Thai Có Nên Quan Hệ Không
  • Những Thay Đổi Của Mẹ Bầu Khi Mang Thai Tháng Thứ 4
  • Những Thực Phẩm Bà Bầu Không Nên Ăn Cùng Nhau
  • Bà Bầu Không Nên Ăn Gì? Những Thực Phẩm Bà Bầu Không Nên Ăn Cùng Nhau?
  • Mang thai hộ được chia thành hai trường hợp: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Hiện nay, pháp luật mới chỉ công nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là hợp pháp.

    Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

    Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

    Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    – Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

    – Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Vợ chồng đang không có con chung; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    – Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    – Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    Hồ sơ đề nghị

    Cặp vợ chồng vô sinh gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, bao gồm:

    – Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ (theo mẫu);

    – Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (theo mẫu);

    – Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;

    – Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;

    – Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    – Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi và đã từng sinh con;

    – Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ.

    – Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;

    – Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;

    – Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;

    – Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định này.

    Thời gian: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ sở được cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ phải có kế hoạch điều trị để thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật này thì phải trả lời bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do.

    Mang thai hộ vì mục đích thương mại

    Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

    Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    “Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

    1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    3. a) Đối với 02 người trở lên;
    4. b) Phạm tội 02 lần trở lên;
    5. c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;
    6. d) Tái phạm nguy hiểm.
    7. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bộ Phim Về Chuyện Học Trò ‘ăn Cơm Trước Kẻng’
  • 9 Tháng Mang Thai, 9 Bộ Phim Hấp Dẫn Không Thể Bỏ Qua!
  • Điểm Danh Những Món Ăn Vặt Bà Bầu Không Lo Tăng Cân
  • 10 Món Ngon Cho Bà Bầu 3 Tháng Đầu: Những Món Ăn Tốt Cho Bà Bầu
  • Top Những Món Ăn Vặt Bổ Dưỡng Dành Cho Bà Bầu
  • Sửa Nghị Định Về Mang Thai Hộ Để Thuận Cho Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Review 10 Ngũ Cốc Cho Bà Bầu Tốt Nhất 2022
  • Giới Thiệu 3 Sản Phẩm Ngũ Cốc Cho Bà Bầu Tốt Nhất
  • Ngứa Âm Đạo Khi Mang Thai Có Phải Bệnh Về Âm Đạo Ở Tphcmphòng Khám Đa Khoa Hoàn Cầu
  • Ngứa Âm Đạo Khi Mang Thai Những Lưu Ý Mẹ Cần Biết
  • Ngứa Âm Đạo Khi Mang Thai Và Những Lưu Ý Quan Trọng
  • Đến nay, cả nước đã có gần 100 hồ sơ đăng ký, tỷ lệ thành công khá bất ngờ, đạt khoảng 50%.

    Kiểm tra số lượng tinh trùng trước khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm.Ảnh: Trần Ngọc

    Sau một năm thực hiện Nghị định về mang thai hộ, mặc dù còn một số vấn đề pháp lý cần được điều chỉnh cho phù hợp thực tế, nhưng Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến khuyến cáo, người có nhu cầu không nên thực hiện “chui” bởi kỹ thuật này đòi hỏi cao hơn biện pháp thụ tinh thông thường.

    Sau một năm Nghị định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đi vào thực tế, chúng ta đã đạt được kết quả gì, thưa ông?

    Nghị định này đã tăng cơ hội làm cha, mẹ cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn. Trước đây, nhiều trường hợp đã phải ra nước ngoài để thực hiện, rất tốn kém. Đến nay, cả nước đã có gần 100 hồ sơ đăng ký, tỷ lệ thành công khá bất ngờ, đạt khoảng 50%. Tin vui là trong tháng 1 này, đứa trẻ đầu tiên bằng kỹ thuật mang thai hộ sẽ ra đời.

    Có nảy sinh những khó khăn gì trong quá trình thực hiện không, thưa ông?

    Trong quá trình triển khai có thuận lợi và cả những khó khăn. Nhiều người cho rằng, thực hiện kỹ thuật của mang thai hộ cũng giống như kỹ thuật xin noãn, xin phôi, xin tinh trùng nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Có những cặp vợ chồng phải nhờ đến kỹ thuật mang thai hộ vì lý do bản thân người phụ nữ không có tử cung nhưng vẫn có hai bên buồng trứng, nhưng những trường hợp này kỹ thuật lấy noãn khó khăn hơn rất nhiều.

    Thậm chí, có ca chúng tôi phải thực hiện kỹ thuật lấy qua đường thành bụng mà nếu không có kinh nghiệm sẽ không thể thực hiện được. Hay thực hiện cho trường hợp người vợ mắc các bệnh lý nặng mà không thể mang thai được, ví như bệnh lý về tim mạch, huyết áp, gan, thận…

    Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến.

    Với những trường hợp này, buồng trứng vẫn hoàn toàn bình thường, nhưng trong quá trình thực hiện có rất nhiều rủi ro, thậm chí cả nguy cơ tử vong. Ngoài ra, những trường hợp tử cung bất thường không thể mang thai được cũng phải thực hiện kỹ thuật này. Do vậy, kỹ thuật mang thai hộ đòi hỏi cao hơn các kỹ thuật thụ tinh khác.

    Bên cạnh đó, còn khó khăn về mặt pháp lý, một bộ hồ sơ để đủ điều kiện mang thai hộ cần rất nhiều dấu đỏ, từ chứng nhận người mang thai hộ cùng huyết thống, họ hàng, đến chứng nhận hôn nhân gia đình và nhiều vấn đề khác… Đòi hỏi về mặt pháp lý phải đầy đủ mới được thực hiện dù về kỹ thuật đã có chỉ định chuyên môn là có.

    Hoàn toàn không nên thực hiện việc mang thai hộ với mục đích thương mại. Vì không có sự ràng buộc về mặt pháp lý, hoàn toàn có thể xảy ra tình huống người mang thai hộ sau sinh con tiếp tục quấy rối, vòi vĩnh tiền hoặc không trao trả con…

    Trong trường hợp này, người nhờ mang thai hộ hoàn toàn đuối về mặt pháp lý. Hơn nữa nếu thực hiện việc này ở những cơ sở y tế trôi nổi, chắc chắn kỹ thuật không tốt, không đảm bảo, như vậy rất dễ “tiền mất tật mang”.

    Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến

    Nhiều người cho biết, khi về xã lấy chứng nhận thì cơ sở cho rằng chưa biết đến luật này hay nghị định này nên không xác nhận. Khi đó, họ lại trở về trung tâm photo văn bản, hướng dẫn rồi quay lại xã, phường thì lúc đó mới được chứng nhận. Có những trường hợp mất 5-6 tháng mới hoàn thiện bộ hồ sơ. Theo tôi quy định pháp lý như vậy là ổn và cần thiết. Tuy nhiên, cần sự tuyên truyền rộng khắp về nghị định này đến tận cơ sở để từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cặp vợ chồng chuẩn bị hồ sơ.

    Theo ông, cần điều chỉnh gì để Nghị định về mang thai hộ thực sự đạt được mục đích nhân đạo?

    Tôi cho rằng còn một số vấn đề chưa hoàn toàn phù hợp do thực tế phát sinh. Ví như, quy định những cặp vợ chồng nào chưa có con chung thì mới được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Nhưng trong thực tế có những cặp vợ chồng đã có 1 con nhưng đứa trẻ tật nguyền, tàn tật do trong quá trình sinh nở trước đó bị ảnh hưởng bởi các thủ thuật sản khoa, và không may người mẹ lại có tai biến sản khoa buộc phải cắt tử cung để giữ mạng sống.

    Một đứa con tàn tật như vậy, trong khi noãn trứng của người mẹ và tinh trùng của người cha hoàn toàn bình thường, mà nếu như họ được sinh thêm một đứa con thì chắc chắn nhân đạo hơn. Và hơn nữa, đứa con được sinh bằng kỹ thuật mang thai hộ sau này sẽ là nguồn chính nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ và ngay cả anh, chị tàn tật của mình.

    Trước đây, khi tham gia đề xuất, soạn thảo nghị định, thông tư về mang thai hộ, chúng tôi từng nghĩ nếu đứa trẻ sinh ra tật nguyền thì đó là do bệnh lý di truyền, vậy sinh ra thêm đứa trẻ tật nguyền thứ hai nữa thì lại thêm gánh nặng và càng khổ hơn, như vậy mất đi ý nghĩa nhân đạo của kỹ thuật này. Nhưng lúc đó, chúng tôi chưa nghĩ đến những đứa trẻ sinh ra tật nguyền nhưng không do yếu tố di truyền gây nên…

    Theo đó, trước mắt chúng ta vẫn thực hiện nghiêm theo quy định. Tuy nhiên, trong thời gian tới, chúng ta cần sửa thêm một số điểm, khía cạnh, những điều chưa phù hợp với thực tiễn. Được như vậy Nghị định này sẽ mang nhiều ý nghĩa nhân văn hơn nữa.

    Vòng 2 to như bà chửa, cô gái quyết tâm “lột xác” đẹp choáng…Phượng Liên tăng gần chục kg, cân nặng chạm mốc 58kg, vòng 2 tăng lên vài chục…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Ngày 15/3 Cho Phép Mang Thai Hộ
  • Mang Thai Hộ: Quy Định Chặt Chẽ Là Cần Thiết
  • Từ 15/3 Cho Phép Mang Thai Hộ
  • Sốc: Phi Thanh Vân Mang Thai Giả, Ăn Chặn Tiền Từ Thiện?
  • Nghén Ngủ Khi Mang Thai Phải Làm Sao? 2
  • Quy Định Mới Về Việc Được Mang Thai Hộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thê Tử – Chanbaek, Hunhan (Chap 36 – End)
  • Huyết Áp Cao Khi Mang Thai Có Nguy Hiểm Không?
  • Love Cake [Chap 4
  • Aaty (Illu) – Chap 22
  • Là Trả Thù Hay Tự Dâng Thân ?! – Phiên Ngoại I
  • Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định mới cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, theo đó đem đến cho những cặp vợ chồng hiếm muộn cơ hội được làm cha mẹ.

    Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

    Pháp luật cấm các trường hợp thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính.

    Những vấn đề pháp lý về mang thai hộ được pháp luật quy định cụ thể như sau:

    Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

    Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

    Về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

    – Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

    – Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

    +Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    + Vợ chồng đang không có con chung;

    + Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    –  Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

    + Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    + Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    + Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    + Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

    + Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    –  Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    Việc thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    –  Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) và vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) phải có các nội dung cơ bản sau đây:

    + Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật hôn nhân và gia đình;

    + Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

    –  Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.

    Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

    Về quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    – Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

    – Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

    – Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

    – Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

    Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    – Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

    Về quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    – Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

    – Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

    – Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

    – Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

    – Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật dân sự.

    Xử lý hành vi vi phạm về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ

    Các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự.

    Rate this post

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hợp Đồng Mang Thai Prc Wattpad Full Online
  • Tổng Hợp Địa Điểm Tập Yoga Bầu Nổi Bật Hà Nội
  • 32.thủ Tục Công Chứng Văn Bản Thỏa Thuận Mang Thai Vì Mục Đích Nhân Đạo
  • Thủ Tục Nhờ Mang Thai Hộ Như Thế Nào?
  • Đồ Bơi Cho Bà Bầu (78 Ảnh): Mẫu Cho Hồ Bơi, Tankini, Thể Thao
  • Quy Định Mang Thai Hộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Lưu Ý Khi Quan Hệ Trong Lúc Mang Thai. Quan Hệ Có Ảnh Hưởng Thai Kỳ Không? Baocongai.com
  • Có Nên Quan Hệ Tình Dục Khi Mang Thai?
  • Mang Thai Tháng Cuối Có Nên Quan Hệ Không? Những Lưu Ý Khi Làm “chuyện Ấy”
  • Quan Hệ Tình Dục Trong Thời Kỳ Mang Thai Có An Toàn Không?
  • Những Dấu Hiệu Sinh Non Cần Lưu Ý Khi Mang Thai Tháng Thứ 7
  • Làm mẹ là một thiên chức cao cả đối với người phụ nữ. Tuy nhiên, hiện nay lại có rất nhiều trường hợp vợ chồng không có con do vô sinh hay vì một lý do nào đó mà vẫn chưa có con trong nhiều năm dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiên tiến. Giải pháp hữu ích hiện nay cho cặp vợ chồng này là dùng phương pháp nhờ mang thai hộ bằng cách lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

    Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo xuất phát từ cơ sở tự nguyện của các bên. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo quy định mang thai hộ sau:

      Vợ chồng nhờ mang thai hộ

    – Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    – Vợ chồng đang không có con chung;

    – Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    – Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    – Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    – Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    – Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng vè vấn đề này;

    – Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý cho việc sẵn sàng mang thai hộ.

    Lưu ý: ở đây là người mang thai hộ phải là người thân thích của bên vợ hoặc bên chồng như anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ. Việc khoanh vùng đối tượng mang thai hộ này có thể hạn chế tình trạng đẻ thuê, tranh chấp xảy ra hay hoạt động mang thai hộ vì mục đích thương mại.

    Trước khi làm thủ tục nhờ mang thai hộ đến cơ sở y tế, hai bên nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ phải lập văn bản thỏa thuận việc mang thai hộ và văn bản này phải được công chứng mới có giá trị. Cho nên cũng đã có nhiều trường hợp con sinh ra do việc mang thai hộ nhưng vì lý do nào đó người nhờ mang thai hộ lại không nhận con hay người mang thai hộ không chịu giao con sau khi sinh. Do đó, đây là điểm bất cập của Luật khi quy định nhưng lại không quy định mang thai hộ rõ ràng cụ thể xử lý vi phạm như thế nào để áp dụng.

    Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem và mong nhận được phản hồi, góp ý bổ sung.

    Nguồn bài viết: Tổng hợp.

    Điều 187 BLHS 2022

    Điều 100 Luật HNGĐ 2014

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhờ Bạn Thân Mang Thai Hộ Có Vi Phạm Pháp Luật Không?
  • Quy Định Pháp Luật, Khi Nào Được Nhờ Người Mang Thai Hộ?
  • Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Mang Thai Hộ
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Mang Thai Hộ Năm 2022
  • Luật Mới Có Chấm Dứt Ngành Đẻ Thuê 2 Tỷ Usd Của Ấn Độ?
  • Có Nên Nới Các Quy Định Về Mang Thai Hộ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mang Thai Mấy Tháng Thì Biết Trai Hay Gái?
  • Bổ Sung Canxi Cho Bà Bầu Từ Tháng Thứ Mấy
  • Top 3 Hãng Mỹ Phẩm Trang Điểm Tốt Nhất Cho Mẹ Bầu
  • Xem Tháng Thụ Thai Biết Trai Hay Gái
  • Thực Đơn Bữa Phụ Cho Bà Bầu Như Thế Nào Ngon Lại Không Ngán?
  • Để đáp ứng nguyện vọng chính đáng đối với trường hợp vì bệnh nhưng vẫn mong muốn được có con mang huyết thống của mình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

    Cụ thể, khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    Luật quy định cho phép mang thai hộ khi bảo đảm các điều kiện: Không vì mục đích thương mại (nghiêm cấm đẻ thuê); chỉ cho phép với những người cùng trong dòng họ hoặc chứng minh có họ hàng 3 đời.

    Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Vợ chồng đang không có con chung; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”.

    Song, theo bà Đinh Thị Hương Thủy – Vụ Pháp chế, Bộ Y tế quy định “chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo khi có quan hệ thân thích cùng hàng” rất khó thực hiện.

    Thực tế, quan hệ thân thích cùng hàng rất rộng, người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ; người có họ trong phạm vi 3 đời cùng hàng với vợ hoặc chồng nhờ mang thai hộ. Chẳng hạn, trường hợp một người quê ở Hải Dương, lớn lên ở Hà Nội và đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh thì ai sẽ là người xác định người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ có quan hệ thân thích cùng hàng? Vì chỉ những người trong họ tộc mới biết, nhưng họ tộc xác nhận có là căn cứ pháp lý được không?.

    Thêm vào đó, việc chứng minh quan hệ nuôi dưỡng rất khó, khi mà Luật Hôn nhân và gia đình, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa có hướng dẫn xác nhận quan hệ thế nào là quan hệ nuôi dưỡng?.

    Hiện nay, pháp luật mới chỉ điều chỉnh quan hệ cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi. Vì chưa có quy định rõ ràng và chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh nên người dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Đây là một trong những nguy cơ có khả năng dẫn đến mang thai hộ vì mục đích thương mại. Do vậy, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP đã quy định hẹp lại người thân thích cùng hàng bao gồm: anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ.

    “Từ thực tế triển khai, Bộ Y tế đề xuất có thể nới lỏng các quy định về điều kiện mang thai hộ và nhờ mang thai hộ để nhiều trường hợp các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn có thể có con mang huyết thống của mình”, bà Hương nói.

    Đồng quan điểm, chúng tôi Nguyễn Văn Cừ, Trường ĐH Luật Hà Nội cho hay, thực tế đòi hỏi cần mở rộng về chủ thể được nhờ mang thai hộ, không chỉ cặp vợ chồng vô sinh mà có thể cho phép các cặp vợ chồng khác hoặc phụ nữ độc thân cũng được thực hiện quyền này. Đồng thời cần quy định cụ thể các trường hợp vợ chồng được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thực hiện pháp luật về mang thai hộ.

    Là người không may mắc bệnh hiếm muộn, chị Nguyễn Thị Hương (Ân Thi, Hưng Yên) chia sẻ: Điều kiện của người mang thai hộ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay quá chặt chẽ, như gia đình chị có con chung rồi nhưng đứa trẻ ấy lại mắc bệnh hiểm nghèo và cũng không tìm được người thân thích mang thai hộ, nên giờ đây cơ hội có con là vô cùng khó khăn.

    Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng đã phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, thậm trí là trái pháp luật. Thời gian gần đây, đã có những trường hợp vi phạm pháp luật về mang thai hộ bị khởi tố, xét xử. Điều này cho thấy mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đang bị biến thành hoạt động thương mại do chưa thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về điều kiện đối với người mang thai hộ.

    PGS.TS Ngô Thị Hường, Trường ĐH Luật Hà Nội chỉ ra, không ít người dân không hiểu đúng thế nào là người thân thích nên khi nộp hồ sơ mang thai hộ thì bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ chứng minh quan hệ thân thích và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện mang thai hộ do không nắm vững quy định về người thân thích nên đã chấp nhận hồ sơ mà không biết hồ sơ này không phù hợp với quy định pháp luật. Do vậy, bà Hường cho rằng không nên mở rộng đối tượng mang thai hộ mà vượt quá người thân thích vì sẽ khó kiểm soát việc mang thai hộ vì mục đích lợi nhuận hay không?!./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mang Thai Hộ & Các Vấn Đề Pháp Lý
  • 【Tổng Hợp】Triệt Lông Vùng Bikini Cho Bà Bầu
  • Mang Thai Bị Xuống Máu Chân Có Nguy Hiểm Không?
  • Những Biểu Hiện Nửa Tháng Đầu Tiên Khi Mang Thai Là Gì ?
  • 14 Cách Cực Đơn Giản Để Biết Có Mình Có Bầu Mà Không Cần Tốn Tiền Mua Que Thử
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Mang Thai Hộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Lợi Của Người Mang Thai Hộ? Phụ Nữ Có Được Mang Thai Hộ Hai Lần Hay Không?
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Người Mang Thai Hộ
  • Quyền Lợi Và Nghĩa Vụ Của Người Mang Thai Hộ Như Thế Nào?
  • Người Mang Thai Hộ Được Hưởng Quyền Lợi Gì?
  • Hiện Tượng Ra Dịch Nhầy Khi Mang Thai Tháng Cuối Có Sao Không?
  • Mang thai hộ là một trong những quy định mới được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được coi là bước đột phá trong công tác lập pháp, mở ra niềm hy vọng mới cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn không thể sinh con ở nước ta.

    Tuy nhiên, thời gian gần đây hình thức này đang bị một số đối tượng biến tướng thành dịch vụ thương mại để kiếm tiền môi giới.

    Trong khi người được nhờ mang thai hộ chỉ vì cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến những rủi ro cả về sức khỏe và vướng mắc pháp luật. Từ đó hình thành các đường dây môi giới mang thai hộ không chỉ trong nước mà còn xuyên quốc gia.

    Sự gia tăng của các đường dây môi giới mang thai hộ đang cho thấy thực trạng về nguồn cung – cầu cũng như việc người dân thiếu nhận thức, chưa nắm rõ các hệ lụy của việc mang thai hộ theo hình thức thương mại và những quy định pháp luật.

    Quy định của Pháp luật về mang thai hộl à nội dung của chuyên mục Bạn và Pháp luật trên kênh VOV1 với sự tham gia tư vấn của Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty Luật SBLAW.

    1.Thưa luật sư! Rõ ràng việc có một đứa con cùng huyết thống với mình là một nhu cầu chính đáng của các cặp vợ chồng vô sinh. Vấn đề ” mang thai hộ” đã được Luật hóa từ sau khi Luật hôn nhân gia đình năm 2014 ra đời. Ông có thể phân tích những tác động tích cực khi mà việc mang thai hộ được Luật hóa ở nước ta ?

    Mang thai hộ là một trong những quy định mới được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HNGĐ) năm 2014 và là một bước đột phá trong công tác lập pháp, mở ra niềm hy vọng mới cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn không thể sinh con. Trong thực tế cuộc sống, các trường hợp vô sinh hiếm muộn xảy ra ngày càng nhiều và có nguy cơ tăng cao tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.

    Như vậy, các quy định về mang thai hộ sẽ tạo khung pháp lý an toàn trong các giao dịch mang thai hộ và có cơ chế phân biệt được với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại như hiện nay đồng thời giúp các cơ quan chức năng có thể kiểm soát được một phần nào đó nhu cầu mang thai hộ hiện nay.

    Mặt khác, việc pháp luật cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã giúp cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn có cơ hội được làm cha làm mẹ, giải tỏa được gánh nặng tâm lý gia đình, hạn chế được sự đổ vỡ của hôn nhân.Có thể nói đây là quy định mang tính nhân văn, góp phần ổn định xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

    2. Quy định của Pháp luật cũng đã nêu rõ: chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại. Vậy ý nghĩa của từ ” nhân đạo” được quy định trong Luật cần được hiểu như thế nào thưa ông?

    Khoản 22 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 quy định về khái niệm mang thai hộ như sau: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.” Mang thai hộ là một thành tựu của y học, có thể nói là một tiến bộ vượt bậc để biến mơ ước không thể làm mẹ của rất nhiều phụ nữ được trở thành hiện thực. Bản chất “mang thai hộ” là hết sức nhân văn vì là một sự giúp đỡ của một người phụ nữ này đối với người phụ nữ khác để sinh ra những đứa trẻ.

    Việc mang thai và sinh nở cũng là việc làm có ý nghĩa nhằm duy trì nòi giống, gắn kết và giữ gìn hạnh phúc mỗi gia đình, bởi vì con cái là động lực để cha mẹ chúng làm việc tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn, góp phần vào sự ổn định, phồn vinh của xã hội.

    3. Thời gian qua, liên tiếp các đường dây môi giới mang thai hộ vì mục đích thương mại đã bị điều tra, khám phá. Điều này cho thấy thị trường môi giới mang thai hộ đang diễn ra rất phức tạp và ngày càng biến tướng. Ông đánh giá như thế nào về thực trạng này?

    Về mặt xã hội, quy định mang thai hộ có tính nhân đạo giúp các cặp vợ chồng có vấn đề về sức khoẻ có khả năng có con theo ý nguyện. Đây cũng là việc phù hợp với truyền thống văn hoá của người dân Việt Nam là muốn có con nối dõi. Về mặt pháp luật, cho phép mang thai hộ sẽ hạn chế tình trạng đẻ thuê, đẻ mướn, buôn bán trẻ em. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng đã phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, thậm chí là trái pháp luật. Thời gian gần đây, đã có những trường hợp vi phạm pháp luật về mang thai hộ bị khởi tố, xét xử. Điều này cho thấy mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đang bị biến thành hoạt động thương mại do chưa thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về điều kiện đối với người mang thai hộ.

    Không ít người dân không hiểu đúng thế nào là người thân thích nên khi nộp hồ sơ mang thai hộ thì bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ chứng minh quan hệ thân thích và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện mang thai hộ do không nắm vững quy định về người thân thích nên đã chấp nhận hồ sơ mà không biết hồ sơ này không phù hợp với quy định pháp luật.

    4. Hiện nay ở các gia đình hiếm muộn đểu có nhu cầu mang thai hộ. Trong khi đó việc để có được 1 bộ hồ sơ hợp pháp mang thai hộ lại cần rất nhiều thủ tục pháp lí quy định chặt chẽ. Do đó nhiều gia đình đã chọn lối đi tắt, tìm đến các đối tượng này và có cung ắt phải có cầu. Đây có phải chăng là nguyên nhân dẫn tới việc các đường dây môi giới đẻ thuê hoạt động ngầm đang cho chiều hướng gia tăng trong thời gian qua?

    Để tránh mang thai hộ vì mục đích thương mại, điều kiện để thực hiện mang thai hộ được quy định rất chặt chẽ.

    Luật HNGĐ 2014 đã quy định điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

    – Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

    – Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    b) Vợ chồng đang không có con chung;

    c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    – Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

    đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Theo đó, vợ chồng và người được nhờ mang thai hộ phải đáp ứng tất cả các điều kiện trên thì mới có thể được xem xét mang thai hộ.

    Tuy nhiên, chính vì điều kiện quá chặt chẽ, do đó những trường hợp không đáp ứng các điều kiện trên thì họ phải tìm những người mang thai hộ trái pháp luật.

    5. Sau những vụ việc mang thai hộ vì mục đích thương mại bị triệt phá thì người ta mới giật mình về sự biến tướng của hình thức mang thai hộ vốn được công nhận vì mục đích nhân đạo. Thực tế hình thức này đã trở thành một “dịch vụ ngầm” mà người ta vẫn gọi là “đẻ thuê” hay “cho thuê tử cung”. Việc mang thai hộ không nằm trong sự bảo trợ của pháp luật có thể gây ra những hệ lụy như thế nào?

    Việc mang thai hộ vì mục đích thương mại, không nằm trong sự bảo trợ của pháp luật có thể dẫn đến rất nhiều hệ lụy.

    Thứ nhất là sức khỏe của người mang thai hộ có thể gặp nhiều vấn đề nếu mang thai hộ nhưng sau đó lại phải phá thai. Đây không phải trường hợp hiếm gặp khi có nhiều gia đình lúc thuê đẻ thì rất chắc chắn nhưng đến khi người đẻ thuê mang thai rồi thì lại ly hôn mỗi người một nơi. Vì mang thai bất hợp pháp nên người đẻ thuê cũng rất khó khăn để tìm lại đôi vợ chồng đó hay bắt họ phải thanh toán tiền nên nhiều người đã chọn cách phá thai.

    Nhu cầu mang thai, có con là vô cùng chính đáng, thế nhưng mọi người cũng cần phải cân nhắc, suy xét thấu đáo, bởi khi làm “chui” có nghĩa là phải gánh chịu rủi ro, thậm chí mất cả chì lẫn chài. Đó còn chưa kể các vấn đề nguy hiểm về sức khỏe, những phát sinh tranh chấp sau này.

    Thứ hai, khi làm “chui”, về sức khỏe cơ sở chui không đảm bảo về khoa học, vô trùng, không đảm bảo về sức khỏe. Về phương diện xã hội và huyết thống có thể không đảm bảo.

    Chưa kể đến những trường hợp cần mang thai hộ tự tìm đến các phòng khám kém chất lượng bơm tinh trùng tươi vào tử cung để có thai. Hành động này kéo theo rất nhiều rủi ro khi không đảm bảo được vệ sinh, dễ nhiễm trùng ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng người phụ nữ.

    6. Mặc dù rất nhiều các đường dây mang thai hộ đã bị triệt phá từ trước đến nay nhưng hành vi này vẫn không có dấu hiệu giảm. Phải chăng do chính những kẽ hở của pháp luật là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng này?

    Điều 95 Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định khá chặt chẽ và chi tiết về điều kiện mang thai hộ. Đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

    “Các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ được quy định tại Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự”.

    Để ngăn chặn việc mang thai hộ vì mục đích thương mại, tại Bộ luật hình sự 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã quy định việc xử lý hình sự đối với Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại tại Điều 187. Theo quy định tại Điều này thì người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm khi thuộc một trong các trường hợp: đối với 2 người trở lên, phạm tội 2 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

    Pháp luật chỉ xử lý hình sự đối với những người tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, còn người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ vì mục đích thương mại chưa có chế tài xử lý. Trong khi đó, trong xã hội có cầu, ắt có cung nên sẽ không khó hình dung sự xuất hiện của một người đứng ra sắp xếp, tổ chức, gắn cung – cầu với nhau.

    7. Khi các đường dây môi giới mang thai hộ này bị bóc gỡ thì kẻ môi giới, những gia đình, những phụ nữ tham gia chắc chắn sẽ phải chịu những chế tài của pháp luật. Nhưng tôi băn khoăn, những đứa trẻ được sinh ra từ hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại liệu có phải hứng chịu những hệ quả từ việc làm sai trái của người lớn?

    Mọi đứa trẻ sinh ra từ việc làm sai trái của người lớn đều sẽ phải hứng chịu những hệ quả dù ít hay nhiều nhất là trong trường hợp này khi mà việc mang thai và sinh con mang một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng thì giờ đây nó lại bị mang ra với mục đích thương mại và được quy ra bằng tiền.

    Cụ thể hành vi này bị Pháp luật nghiêm cấm nên có nhiều cơ sở vẫn thực hiện chui. Điều này khiến cho điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt sẽ không thể diễn ra như bình thường. Trong khi giai đoạn thai kỳ là vô cùng quan trọng để quyết định đến sự phát triển sau này của đứa trẻ thì người mang thai không thể chăm em bé chu đáo và đi khám thai kỳ thường xuyên được. Vì vậy khiến cho một đứa trẻ sinh sẽ có thể bị ảnh hưởng tới sức khoẻ và trí não. Chưa kể việc kiểm soát danh tính, lai lịch của những người nhờ mang thai hộ là không có nên việc đứa trẻ bị đưa đi đâu với mục đích gì cũng không thể chắc chắn.

    8. Theo ông, làm thế nào để ngăn chặn hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại, trả lại ý nghĩa nhân văn như nó vốn có?

    Thứ nhất, hiện nay quy định về chế tài xử phạt đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại còn khá thấp, chưa rõ ràng nên còn rất nhiều đối tượng lách luật. Vì vậy cần phải có quy định chặt chẽ hơn về công tác quản lý và tăng khung hình phạt đối với hành vi trên.

    Thứ hai, có thể thực hiện kiểm soát qua y tế. Nhà nước có thể quy định mỗi người chỉ được phép mang thai hộ 01 lần và qua kiểm soát hồ sơ y tế có thể biết được người nào mang thai hộ nhiều lần để kịp thời phát hiện.

    Thứ ba, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nâng cao hình thức giáo dục, tuyên truyền để cả những người mang thai hộ và những người nhờ mang thai hộ nắm được quy định pháp luật về mang thai hộ. Ngoài ra, để mọi người có thể hiểu rõ về ý nghĩa thiêng liêng và hiểu đúng về mục đích của việc này.

    9. Vậy còn đối với những cặp vợ chồng hiếm muộn, có nhu cầu mang thai hộ thực sự thì cần chú ý những điều gì và cần những thủ tục pháp lý gì để không vi phạm pháp luật, thưa ông?

    Thứ nhất, đối với cặp vợ chồng hiếm muộn thì cần có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền

    Thứ hai, theo quy định tại Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thìhồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo gửi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, gồm:

    • Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định số/2015/NĐ-CP;
    • Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định số/2015/NĐ-CP;
    • Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;
    • Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;
    • Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
    • Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Nghị định số/2015/NĐ-CP và đã từng sinh con;
    • Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ.
    • Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;
    • Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;
    • Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;
    • Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định số/2015/NĐ-CP.

    Thứ ba, khi thực hiện kỹ thuật mang thai hộ, Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ sẽ có trách nhiệm tư vấn pháp lý về theo quy định tại Điều 18 Nghị định này.

    Xin được cảm ơn những chia sẻ của Luật sư trong chương trình ngày hôm nay. Chuyên mục Bạn và Pháp luật tuần này cũng xin được kết thúc ở đây. Cảm ơn luật sư Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty SBLAW đã đồng hành cùng chương trình, cảm ơn quý thính giả đã để tâm theo dõi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Y Tế Quy Định Đề Xuất Cho Phép Mang Thai Hộ
  • Những Quy Định Bà Bầu Đi Máy Bay Vietnam Airlines
  • Những Quy Định Đối Với Bà Bầu Đi Máy Bay Vietjet Air
  • Điều Cần Biết Về Quy Định Bà Bầu Đi Máy Bay Jetstar
  • Quy Định Về Việc Bà Bầu Đi Máy Bay
  • Quy Định Về Việc Mang Thai Hộ Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Mang Thai Hộ Đã Thành Công
  • Bệnh Viện Từ Dũ Thực Hiện 4 Trường Hợp Mang Thai Hộ Đầu Tiên
  • Khát Khao Có Con, Mẹ Hiếm Muộn 15 Năm Giấu Mẹ Chồng Nhờ Em Gái Mang Thai Hộ
  • Một Số Vấn Đề Pháp Lý Về Mang Thai Hộ
  • Thị Trường Mang Thai Hộ Trên Thế Giới
  • Vừa qua phóng viên của INFOTV đã có cuộc trao đổi với Luật sư của công ty Luật SB LAW về những quy định đối với việc mang thai hộ (MTH), cụ thể:

    Câu hỏi: Luật sư có thể chia sẻ cụ thể về quy định MTH? Trả lời:

    Mang thai hộ là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con thay cho người khác. Người nhận con là cha mẹ của đứa trẻ, chứ không phải người mang thai hộ. Cha mẹ có thể vì nhiều lý do, như điều kiện sức khỏe không cho phép, mà phải thuê người khác để sinh con hộ mình. Nhiều ca mang thai hộ thực hiện bằng cách cấy trứng và tinh trùng đã thụ tinh của cặp cha mẹ vào trong tử cung của người mang thai hộ.

    Dựa trên tiêu chí mục đích của hành vi, mang thai hộ có thể được chia thành hai trường hợp: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Hiện nay, pháp luật mới chỉ công nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là hợp pháp.

    Đối với mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

    Căn cứ Luật Hôn nhân gia đình 2014, Điều kiên để mang thai hộ theo Điều 95, 96 là:

    – Trên cơ sở tự nguyện giữa các bên.

    – Người nhờ mang thai hộ phải đủ điều kiện: Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Vợ chồng đang không có con chung; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

    – Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    – Điều kiện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Theo Điều 13 Nghị Định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo)

    – Hồ sơ và thủ tục đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Điều 14 Nghị Định 10/2015/NĐ-CP được quy định như sau:

    Do trao đổi dịch vụ MTH vì mục đích thương mại trái với Điều 5 Khoản 2 Luật HNGĐ 2014, đây là một trong những hành vi bị pháp luật cấm.

    Vì là giao dịch chui, không được pháp luật bảo vệ nên rủi ro là điều không thể tránh khỏi của việc MTH chui. Ngoài những rủi ro về mặt pháp lý, các bên cũng như đứa trẻ còn có thể gặp những nguy cơ khác, cụ thể:

    – Rủi ro về thanh toán. Do không được đảm bảo về mặt pháp lý, các tổ chức hay những người đứng ra giao dịch chui rất dễ bỏ trốn mà không thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện không đầy đủ thỏa thuận giữa hai bên. Mặt khác đối với bên nhận MTH, có khả năng không được thanh toán khi đứa trẻ sinh ra bị dị tật, sức khỏe không mong muốn, khiên cho người thuê MTH không muốn nhận con.

    – Rủi ro về mặt y tế: Không có một hình thức đảm bảo cho tổ chức hay người thực hiện hoạt động MTH chui này có thể chắc chắn việc MTH bảo đảm sức khỏe, hay bảo đảm nguồn phôi chính xác cho khách hàng, dẫn tới nhiều rủi ro về sức khỏe sau này cho cả đứa trẻ và người nhận MTH.

    – Rủi ro khi xảy ra tranh chấp: Vì pháp luật không bảo vệ cho MTH nên không có hình thức giải quyết tranh chấp nào khi xảy ra. Do vậy, khi có tranh chấp, các bên đều tự thỏa thuận, mặc dù rất khó có thể giải quyết bằng phương pháp này.

    Đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

    Như vậy, hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại có thể bị xử lý vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại, nếu có. Thậm chí, hành vi này còn có khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Theo đó, Điều 187 Bộ luật hình sự năm 2022 sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định về Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại như sau:

    Như vậy, hình phạt cao nhất mà người có hành vi vi phạm pháp luật có thể phải chịu theo quy định này có thể lên tói 5 năm tù giam.

    Phóng viên: Xin cảm ơn Luật sư !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Thai Hai Bảo: Giám Đốc Hàng Tỉ Yêu Vợ Tận Xương
  • Hai Ca Mang Thai Hộ Thành Công Đầu Tiên Tại Bệnh Viện Từ Dũ
  • Câu Chuyện Đằng Sau Ca Mang Thai Hộ Đầu Tiên Của Bv Phụ Sản Trung Ương
  • Mang Thai Hộ: Chờ Quả Ngọt!
  • Mang Thai Hộ, Phải Làm Sao?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100